Đằng sau 5 tính năng quan trọng bậc nhất của đồng hồ cơ đeo tay

Trải qua hơn 100 năm, đồng hồ cơ đeo tay đã có rất nhiều thay đổi, thậm chí có lúc tưởng như sụp đổ trước sức ép của các loại đồng hồ mới. Xoay quanh chiếc đồng hồ cơ ấy có vô vàn những câu chuyện lịch sử đắt giá, cũng ly kỳ và hấp dẫn như “Nghìn lẻ một đêm” …

1.Đồng hồ chống chịu nước

Không những khoác trên mình vẻ sang trọng, quý phái của một chiếc đồng hồ đẳng cấp, Rolex Oyster còn được nhắc đến như chiếc đồng hồ chống thấm nước đầu tiên trên thế giới.

Thời điểm năm 1925 đã ghi dấu bước ngoặt lịch sử của thương hiệu Rolex khi Wilsdorf quyết định mua lại bằng sáng chế loại đồng hồ chống thấm nước từ 2 nhà phát minh Perregaux và Georges Peret. Kết quả của quyết định này là sự ra đời của loại đồng hồ đầu tiên trên thế giới có khả năng chống chịu nước – Rolex Oyster. Để chứng minh khả năng “thần kỳ” đó, công ty Wilsdorf đã thực hiện một cuộc thực nghiệm vĩ đại vào năm 1927. Wilsdorf đã mời “kình ngư” trẻ tuổi người Anh – Mercedes Glietz thực hiện cuộc chinh phục eo biển Anh khi đang đeo đồng hồ chống thấm nước Rolex Oyster. Sau 10 giờ bơi liên tục dưới nước, Glietz trồi lên mặt nước và chiếc đồng hồ trên tay cô vẫn hoạt động bình thường. Rolex Oyster đã khiến cả thế giới phải trầm trồ, ngưỡng mộ

dongho

Sau đó vào năm 1932, dựa trên cảm hứng từ chiếc đồng hồ Rolex Oyster, Omega cũng cho ra đời đồng hồ chống thấm nước thiết kế dành riêng cho thợ lặn với tên gọi Omega Marine. Chiếc đồng hồ thông minh này được che chắn bởi một cái hộp hình chữ nhật bên ngoài giúp cho đồng hồ vẫn hoạt động tốt dù người thợ lặn đang ở độ sâu đáng kinh ngạc. Sự đột phá được đẩy lên đến đỉnh cao khi Omega thử thách khả năng của đồng hồ Marine bằng một loạt các phép thử không tưởng. Đặc biệt năm 1963, Omega thử nghiệm bằng cách nhúng chìm chiếc đồng hồ Marine vào nước ở độ sâu 73m trong thời gian 30 phút tại hồ nước Geneva. Khi thử thách kết thúc, chiếc đồng hồ ấy vẫn hoạt động trơn tru, hoàn hảo đến bất ngờ.

2. Chức năng bấm giờ của đồng hồ Chronograph

 

Đa năng và cực kỳ chính xác là những điều đầu tiên khi nhắc đến đồng hồ bấm giờ Chronograph. Sự ra đời của chronograph đã đánh dấu bước ngoặt lớn làm thay đổi hẳn khái niệm về thời gian. Với hai hệ thống tính giờ độc lập, người dùng vừa có thể biết được thời gian trong ngày, vừa có thể thực hiện một hoặc nhiều phép đo đặc biệt cùng lúc.

Astron Chronograph (77)

Lịch sử đồng hồ Chronograph được viết lại sau gần 1 thế kỷ khi người ta phát hiện ra Nicolas Rieussec không phải là “cha đẻ” của chiếc đồng hồ Chronograph huyền thoại như nhiều người vẫn nhầm tưởng. Thực tế, kiệt tác để đời đó được tạo ra bởi nhà chế tạo đồng hồ Louis Moinet năm 1816.

Sau đó vào năm 1913, công ty Longines đã tiên phong sản xuất đồng hồ đeo tay chronograph với số lượng lớn mang sức ảnh hưởng của nó lan tỏa trên toàn thế giới. Chiếc đồng hồ này có đường kính 29mm và độ chính xác lên đến một phần năm của 1 giây.

Năm 1915, Breitling cũng cho ra đời phiên bản đồng hồ chronograph của riêng họ với những cách tân mới mẻ. Người đứng đầu công ty Breitling đã nảy ra ý tưởng tạo ra các núm xoay trên đồng hồ có khả năng kiểm soát sự bắt đầu, dừng lại và thiết lập lại phép đo.

Những đổi mới trong chiếc đồng hồ chronograph đã mở đường cho sự phát triển của Valjoux 7750 – hệ thống chuyển động sử dụng phổ biến trong hầu hết đồng hồ cơ chronograph hiện nay.

3.  Đồng hồ chống sốc

Truyền thuyết kể rằng trong một bữa tiệc, để quảng bá cho chiếc đồng hồ có khả năng chống sốc đặc biệt của mình, Abraham Louis Breguet đã thả chiếc đồng hồ “rơi tự do” trước con mắt kinh ngạc của rất nhiều người. Theo lẽ thông thường, chiếc đồng hồ sẽ bị trầy xước và hỏng hóc nhưng Breguet đã làm được điều ngược lại.

Đồng hồ chống sốc

Sau đó vào những năm 1920, dựa trên tiền đề của Breguet, Wyler Geneve đã phát triển khả năng chống sốc “thần kỳ”của đồng hồ. Đồng hồ Wyler nổi tiếng vì độ bền bỉ và dẻo dai, nó trở nên “vụt sáng” sau cuộc thử nghiệm chấn động gắn liền với tòa tháp danh tiếng của nước Pháp năm 1956. Để khẳng định độ “dai” của đồng hồ do hãng sản xuất, Wyler Geneve đã thả hai chiếc đồng hồ Wyler Incaflex từ đỉnh tháp Eiffel ở độ cao 300 mét. Thật kỳ diệu, 2 chiếc đồng hồ vẫn hoạt động bình thường sau khi tiếp đất. Tương tự vào năm 1962, 6 chiếc đồng hồ cũng được thả xuống từ tháp Seattle và cho ra kết quả tương tự.

Thương hiệu Rolex cũng “chung tay” vào trào lưu đồng hồ chống sốc khi phát triển hệ thống Paraflex khiến đồng hồ có sức đề kháng mạnh hơn gấp 50 %.

Một trong những phát triển gần đây nhất về khả năng chống sốc chính là những chiếc đồng hồ “nhảy vọt về công nghệ” của Ulysse Nardin. Trong đó độ đàn hồi và tính chất ma sát khô vượt trội của silicon đã được sử dụng để tạo ra một hệ thống chống sốc mới.

4. Đồng hồ tự động

Năm 1770, nhà phát minh người Thụy Sỹ Abraham-Louis Perrelet phát minh ra hệ thống tự động lên dây cót đầu tiên cho những chiếc đồng hồ quả quýt (bỏ túi). Đến năm 1923, nhà chế tác đồng hồ người Anh John Harwood được cấp bằng sáng chế cho phát minh về cơ chế lên dây tự động cho đồng hồ đeo tay. Sử dụng một khối bán nguyệt có khả năng quay 300 độ, chiếc đồng hồ của Harwood có thời gian dự trữ năng lượng là 12 giờ và thiết lập lại thời gian bằng cách sử dụng benzel. Với sự hậu thuẫn về tài chính, ông đã sản xuất hàng ngàn chiếc đồng hồ dựa trên cơ chế của mình. Tuy nhiên, nền kinh tế Anh những năm 1920 – 1930 bắt đầu suy thoái, công ty Harwood bị phá sản và buộc phải để các công ty khác sử dụng thiết kế của mình.

Fstoppers_Rolex_Daytona_Time_Lapse_After

Giám đốc nghiên cứu và phát triển tại nhà máy Rolex Bienne – Emile Borer tiếp tục phát triển thiết kế của Harwood và đó là cơ sở của chiếc Rolex caliber 620 Oyster Perpetual. Một vài biến đổi được thực hiện để rotor có thể xoay 360 độ theo cả hai hướng. Điều này không chỉ giúp tăng năng lượng lưu trữ trong cuộn dây cót, giúp nó có thể chạy 35 giờ mà còn khiến người đeo cảm thấy dễ chịu, thoải mái hơn.

Năm 1935, tay đua người Anh Sir Malcolm Campbell đã phá vỡ kỷ lục thế giới tại Bonneville Salt Flats, Utah. Đặc biệt, trong cuộc đua anh đã đeo chiếc đồng hồ Oyster Perpetual và xuất sắc dành chiến thắng ở tốc độ 300mph. Nhờ đó mà tiếng tăm của đồng hồ Oyster lan rộng trên khắp thế giới.

5. Đồng hồ có khả năng điều hướng

Năm 1919, trong 3 chiếc máy bay cất cánh từ Newfoundland đến London thì chỉ có 1 chiếc thực hiện chuyến bay thành công. Sau khi chứng kiến thảm kịch này, thuyền trưởng Philip Weems thuộc Hải quân Mỹ đã tiến hành nghiên cứu để hoàn thiện phương pháp chuyển hướng bay.

Omega-Speedmaster-Moonphase-Chronograph-Master-Chronometer-aBlogtoWatch-3

Để giải quyết vấn đề này, Philip Weems đã phát minh hệ thống dẫn đường Weems huyền thoại. Nhờ đó, phi công thời đó có thể di chuyển với độ chính xác lớn hơn nhiều và gặp ít rủi ro hơn trong những chuyến bay.

Sau đó vào năm 1927, Charles Lindbergh đã bay một mình không ngừng nghỉ vượt qua Đại Tây Dương và phát triển hệ thống dẫn đường của Weems. Ông lo lắng về vấn đề xác định vòng bi của máy bay trong suốt chuyến bay và đưa ra ý tưởng về một chiếc đồng hồ cung cấp những “góc giờ” về độ và phút, cho phép phi công tính toán được kinh độ.

Sự phát minh ra đồng hồ Weems Second Setting Watch và Lindbergh Angle Hour Watch là hai sự kiện quan trọng trong lịch sử phát triển đồng hồ có khả năng định hướng dành riêng cho phi công.

Để sáng tạo ra những kiệt tác đồng hồ có chức năng tuyệt vời như trên đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của rất nhiều nhà phát minh, sáng chế đồng hồ trên khắp thế giới. Có thấu hiểu được lịch sử của những chiếc đồng hồ đó, chúng ta sẽ thêm trân trọng những “người bạn” vẫn bền bỉ song hành cùng ta trong suốt cuộc đời.

Related posts